Cập nhật Vĩ mô – tháng 2/2026: TIÊU DÙNG GIẢM TỐC, SẢN XUẤT THĂNG HOA
09/03/2026 - 4:45:07 ChiềuSố liệu vĩ mô tháng 2/2026 cho thấy các động lực tăng trưởng không đồng đều giữa tiêu dùng và sản xuất trong bối cảnh biến động địa chính trị mang đến những lo ngại về đứt gãy chuỗi cung ứng, an ninh năng lượng, lạm phát và dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ ở giai đoạn tiếp theo.
- Lạm phát tổng thể hạ nhiệt đến từ áp lực giảm phát của thực phẩm và xăng dầu. CPI tăng 3,35% YoY và 1,14% MoM, chủ yếu do lực cầu tiêu dùng mang tính mùa vụ trong dịp Tết trong khi CPI cơ bản tiếp tục duy trì ở mức cao, đạt +3,47% YoY trong 2 tháng và +3,74% YoY trong tháng 2; phản ánh thực tế rằng áp lực giảm phát hiện chỉ đang tập trung ở nhóm lương thực và dầu khí.
- Động lực tiêu dùng bán lẻ tiếp tục giảm tốc. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 2 đạt 613,7 nghìn tỷ đồng (+8,5% YoY), lũy kế 2 tháng đạt 1.236,6 nghìn tỷ đồng (+7,9% YoY).
- Sản xuất công nghiệp (IIP) chịu ảnh hưởng bởi hiệu ứng Tết, nhưng PMI tiếp tục xác nhận đà phục hồi. Chỉ số IIP tháng 2 chịu ảnh hưởng bởi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán khiến số ngày làm việc ít hơn. Tuy nhiên, tính chung 2 tháng đầu năm, IIP đã mở rộng mức tăng lên +10,4% YoY (2M2025: +7,5%).
- Thâm hụt thương mại gia tăng do hoạt động nhập khẩu tư liệu sản xuất được đẩy mạnh. Cán cân thương mại tháng 2 ghi nhận mức thâm hụt 1,04 tỷ USD, đẩy mức nhập siêu lũy kế 2 tháng lên 2,98 tỷ USD (2M2025: +1,77 tỷ USD). Sự đảo chiều này đến từ việc khu vực FDI chủ động đẩy mạnh nhập khẩu nhằm tích lũy tư liệu sản xuất cho chu kỳ nâng công suất mới.
- Sự phân hóa giữa dòng vốn FDI đăng ký và giải ngân. Tổng vốn FDI đăng ký trong 2M2026 đạt 6,03 tỷ USD (-12,6% YoY). Sự sụt giảm của tổng vốn đăng ký chủ yếu đến từ dòng vốn điều chỉnh bổ sung, phản ánh tâm lý thận trọng của các nhà đầu tư hiện hữu trước khi Luật Đầu tư mới (có hiệu lực từ 1/3/2026) đi vào thực tiễn. Ngược lại, điểm sáng nằm ở vốn FDI giải ngân đạt 3,21 tỷ USD (+8,8% YoY) – mức cao nhất của kỳ 2 tháng trong vòng 5 năm qua.
Tính đến ngày 26/02, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 1,4% YTD trong khi tăng trưởng huy động chỉ đạt 0,36% YTD. Động thái siết dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực bất động sản đã phần nào hạ nhiệt tốc độ tăng trưởng tín dụng chung nhưng đồng thời chưa thể làm giảm sự phụ thuộc của hệ thống ngân hàng đối với lượng thanh khoản trên kênh thị trường 2, đặc biệt là thông qua kênh thị trường mở (OMO) và tiền gửi Kho bạc Nhà nước (KBNN).
- Trong những ngày đầu tháng 3/2026, áp lực thanh khoản dần trở lại với lãi suất liên ngân hàng (LNH) kỳ hạn qua đêm duy trì quanh ngưỡng 10% do chênh lệch kỳ hạn giữa các hợp đồng hoán đổi ngoại tệ, đấu thầu tiền gửi Kho bạc và thu hẹp khối lượng lưu hành RRP trên kênh OMO. Sau đó, động thái can thiệp từ NHNN đã giúp ổn định mặt bằng lãi suất trên thị trường 2 thông qua phát hành hợp đồng hoán đổi ngoại tệ, bơm ròng trên kênh OMO trong khi KBNN trở lại đấu thầu tiền gửi tại Big4.
- Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn tại thị trường 1 ở hai tháng đầu năm tiếp tục làm gia tăng sự phụ thuộc của hệ thống ngân hàng thương mại vào lượng thanh khoản ở thị trường 2.
- Ở một diễn biến khác, tình trạng thừa thanh khoản VNĐ vào cuối tháng 2 khiến tỷ giá nhanh chóng bật tăng do đồng thời chịu ảnh hưởng của tính chu kỳ đến từ việc doanh nghiệp trong nước gia tăng nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.
- Nhìn về triển vọng nửa đầu năm 2026, chúng tôi cho rằng mặt bằng lãi suất dù dự kiến sẽ có phần hạ nhiệt trong quý 2/2026 song vẫn duy trì ở mức nền cao so với năm 2025 khi các yếu tố liên quan đến cấu trúc nguồn vốn tài trợ cho hệ thống ngân hàng vẫn chưa theo kịp nhu cầu cho vay. Dù vậy, bối cảnh tỷ giá sẽ tiếp tục được hưởng lợi và phần nào gia tăng dư địa để NHNN tiếp tục mở rộng biên độ tăng trưởng tín dụng để phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong năm nay.
